Archive for the ‘REVERSING WITH IDA FROM SCRATCH (P19)’ Category


Trải qua 18 phần tôi ghĩ các bạn đã có được những kiến thức nhất định, trong phần 19 này chúng ta sẽ thực hiện reverse Cruehead Crackme một cách đầy đủ nhất để hiểu cách hoạt động cũng như code một keygen nhỏ.

Load crackme vào IDA và bỏ chọn Manual Load bởi đây là file gốc không bị packed nên ta không cần phải sử dụng đến tùy chọn này.

Sau khi phân tích xong, ta thấy IDA dừng lại EP của crackme như trên hình. Do crackme này không phải là một ứng dụng dạng console như ở các phần trước, nên nhiệm vụ của ta không nhất thiết là phải đi tìm được hàm main. Ta biết rằng với các ứng dụng kiểu Window Applications thường có một message loop nhằm xử lý những gì người dùng tương tác với cửa sổ, nút bấm và thực hiện theo từng hành động của người dùng. Nó được lập trình để thực hiện các chức năng khác nhau.

Cách phổ biến nhất khi làm việc trong IDA vẫn là tìm kiếm các strings quan trọng tại cửa sổ Strings, nếu không có kết quả như mong muốn, ta sẽ tìm kiếm thông tin về các hàm APIs hoặc các hàm được viết bởi chính người lập trình. Trong trường hợp này, các strings của crackme có thể quan sát được rất dễ dàng, vì vậy chúng ta sẽ đi theo hướng tiếp cận này.

Tại màn hình Strings, có rất nhiều chuỗi nhưng ta sẽ dò theo chuỗi “No luck!” vì ta đoán chuỗi này sẽ đưa chúng ta đến vùng code đưa ra quyết định rẽ nhánh nào đó của Crackme. Trước tiên, nhấp đúp vào chuỗi này, ta sẽ chuyển tới màn hình Disassembly như hình dưới:

Tại đây, ta tìm kiếm các tham chiếu bằng cách nhấn phím tắt X hoặc Ctrl + X. Kết quả có hai tham chiếu đến chuỗi “No luck!”:

Hãy xem xét lệnh đầu tiên. Chọn lệnh này và nhấn OK, ta sẽ tới đây:

Tôi đổi màu cho khối lệnh này thành màu đỏ (hoặc màu nào khác tùy bạn) đồng thời cũng đổi tên luôn cho sub này vì nhìn vào các lệnh tại đây các bạn cũng đã hiểu được mục đích của nó rồi.

Tiếp theo ta xem sub này được gọi từ đâu khác trong code của Crackme, ta có được kết quả như sau:

Tại vùng code này, tôi cũng đổi màu cho block để dễ dàng nhận biết. Đồng thời với kết quả có được thì chắc chắn nhánh bên cạnh sẽ là nơi hiển thị thông báo “Good work!”. Ta đi tới các lệnh tại sub_0x40134d:

Rõ ràng là hàm này làm nhiệm vụ hiển thị thông báo “Good work!”, do vậy tôi thực hiện đổi màu của khối lệnh này cũng như tên của hàm như trên hình. Nhấn phím tắt ESC để quay ngược trở lại nơi gọi tới hàm này, ta có kết quả như sau:

Tạm thời phân tích sơ bộ về các đoạn code liên quan đến việc hiện thị chuỗi “No luck!” đầu tiên đã xong. Tiếp theo, ta chuyển tới đoạn code thứ hai có tham chiếu tới chuỗi “No luck!”. Tại đây tôi cũng chuyển màu cho khối lệnh này và đổi tên cho loc_ tương tự như hình:

Như vậy, ngoài thông báo lỗi ở trên, chúng ta còn có một thông báo lỗi tương tự khác ở đoạn code sau:

Tại đây, chúng ta thấy rằng sub_40137E() nhận một tham số truyền vào cho hàm này, đó là địa chỉ (offset) của một biến được IDA nhận diện là String. Nhấp đúp chuột vào biến này ta sẽ đi tới đây:

Với thông tin IDA cung cấp, thì đây là một buffer có kích thước 3698 bytes tại địa chỉ 0x40218E, thuộc section DATA của Crackme. Nhấn X tại biến này ta sẽ thấy có hai tham chiếu tới nó:

Trước tiên, đi tới lệnh push như tôi đã đánh dấu mũi tên trên hình. Tại đó có các lệnh như sau:

Ta thấy chuỗi này được truyền vào như là tham số cho hàm API là GetDlgItemTextA(), API này có nhiệm vụ nhận thông tin người dùng nhập vào từ hộp thoại. Tra cứu thêm thông tin về hàm này trên MSDN:

Như vậy là biến String sẽ được sử dụng làm buffer để lưu trữ dữ liệu mà người dùng nhập vào thông qua hàm GetDlgItemTextA(). Độ dài tối đa của chuỗi được copy vào buffer là 0xB (11).

Quan sát trên hình, bên dưới ta thấy có khối code tương tự như khối ta vừa phân tích và khối này cũng xử lý cùng một hWnd. Do đó, tôi suy đoán toàn bộ khối lệnh này được sử dụng để lấy thông tin về tên người dùng và mật khẩu khi nhập vào các textbox của Crackme.

Qua đoạn code trên, ta cũng thấy rằng cả hai textbox này đều có một giá trị định danh là nIDDlgItem tương ứng cho chúng là 0x3E80x3E9. Bằng việc sử dụng ứng dụng Greatis WinDowse (http://greatisprogramming.com/freedownload/wdsetup.exe), chương trình này sẽ cung cấp cho ta thông tin về các cửa sổ:

Với sự hỗ trợ của Greatis WinDowse, tôi đã xác định được ID của textbox đầu tiên (Name) là 0x3E8, do đó textbox thứ hai (Serial) sẽ là 0x3E9. Do đó, quay trở lại IDA để thực hiện đổi tên lại cho các buffer này, buffer đầu tiên tương ứng với chuỗi name người dùng nên tôi đặt là String_User và buffer thứ hai tương ứng với mật khẩu nên tôi đặt là String_Password. Cả hai buffer này chỉ chấp nhận chuỗi nhập vào có chiều dài tối đa là 0x0B như đã phân tích ở trên:

Tới lúc này ta đã biết được nơi sẽ lưu trữ thông tin mà người dùng nhập vào, chúng ta tiếp tục phân tích tiếp xem code của chương trình sẽ làm gì với các buffer này. Đầu tiên là String_User, code xử lý nó tại đây:

Trước khi đi vào phân tích sâu hơn ta sẽ đổi tên lại các hàm để code nhìn rõ ràng hơn. Hàm đầu tiên nhận tham số truyền vào là biến String_User, do đó hàm này có nhiệm vụ xử lý chuỗi Name, còn hàm thứ hai nhận tham số truyền vào là biến String_Password, do đó nhiệm vụ của hàm này chắc chắn sẽ liên quan tới mật khẩu mà người dùng nhập vào. Sau khi đổi tên hàm tôi có kết quả như hình:

Bây giờ, ta sẽ đi vào phân tích hàm đầu tiên là Process_User():

Tại hàm này, ta thấy nó có một tham số là arg_0, do tham số của hàm được truyền vào trước khi gọi hàm nên tham số này chắc chắn là chuỗi tên của người dùng. Tôi đặt lại tên cho tham số này và sử dụng lại cùng một tên để cho dễ nhớ. Tôi ghép thêm tiền tố offset để nhớ rằng đây là một biến con trỏ, trỏ tới chuỗi được lưu. Tiếp theo tôi đặt lại kiểu cho hàm này bằng cách nhấn phím tắt Y.

Khi quay trở lại vị trí thực hiện lời gọi hàm, chúng ta thấy IDA đã tự động bổ sung thêm comment trùng với tên của tham số mà ta đã đặt trong hàm.

Quay trở lại phân tích hàm Process_User(), hàm này sử dụng một vòng lặp thực hiện đọc từng byte của String_User. Vòng lặp này sẽ đi theo hướng mũi tên màu đỏ và lặp lại chừng nào byte đọc ra không phải là 0x0, nghĩa là khi chưa kết thúc chuỗi:

Sau mỗi lần xử lý của vòng lặp ta sẽ tấy nó thực hiện lệnh inc nhằm tăng giá trị của thanh ghi ESI để đọc kí tự tiếp theo trong String_User, sau đó thực đi theo hướng mũi tên màu xanh lam để thực hiện tiếp:

Kí tự được đọc ra đầu tiên sẽ được đem so sánh với giá trị 0x41. Để biết nó là gì, nhấn chuột phải tại giá trị 0x41 này và đổi thành ‘A’ là kí tự ASCII của giá trị đó:

Kết quả có được như sau:

Ta thấy, nếu kí tự đọc ra thấp hơn chữ cái ‘A’, crackme sẽ rẽ nhánh sang đoạn code hiển thị thông báo “No luck!”. Vì vậy, nếu quan sát nội dung của bảng mã ASCII thì ta hiểu rằng Crackme không chấp nhận có số trong chuỗi tên của người dùng (vì chúng phải lớn hơn hoặc bằng với A).

Vậy tóm lại, đầu tiên crackme sẽ kiểm tra tất cả các ký tự trong String_User phải lớn hơn hoặc bằng 0x41 (A).

Tiếp theo, crackme một lần nữa kiểm tra kí tự đọc ra nếu không thấp hơn (JNB) chữ cái ‘Z’ thì sẽ rẽ đến nhánh tới địa chỉ 0x401394, còn nếu kí tự đọc ra là thấp hơn thì sẽ tiếp tục với các kí tự tiếp thông qua khối màu xanh lam như tôi đã đổi trên hình.

Như vậy, crackme này chấp nhận các chữ cái hoa do người dùng nhập vào. Các chữ cái lớn hơn hoặc bằng ‘Z’ sẽ đi đến khối lệnh tại địa chỉ 0x401394. Ta phân tích hàm sub_4013D2() xem nhiệm vụ của nó là gì.

Tôi đổi tên hàm này thành Convert_to_Uppercase() dựa vào các câu lệnh mà hàm này thực hiện. Nếu kí tự nhập vào lớn hơn ‘Z’ thì sẽ được trừ đi 0x20 và được lưu lại vào cùng buffer.

Nghĩa là, nếu bạn nhập vào là chữ “a” thường, tương đương mã là 0x61, sau khi trừ 0x20 thì kết quả sẽ là 0x41, tương đương với chữ “A“. Hàm này sẽ thực hiện công việc tương tự cho tất cả các ký tự lớn hơn hoặc bằng “Z”. Do đó, nếu ta nhập vào là “Z”, sau khi trừ đi 0x20 ta có kết quả là 0x3a, đó chính là dấu “:” trong bảng mã ASCII:

Note: Thực ra cũng không hẳn là Convert_to_Uppercase(), nó phụ thuộc vào người dùng nhập vào. Ta cứ giả sử lý tưởng hóa người dùng nhập vào một chuỗi không vi phạm 🙂 .

OK, vậy là ta có thể xây dựng một Python script để tạo ra keygen như sau:

user = raw_input()
len_user = len(user)
if (len_user > 0xb):
    exit()

userName=""

for i in range(len_user):
    if (ord(user[i]) < 0x41):
        print "INVALID CHARACTER!"
        exit()
    if (ord(user[i]) &gt;= 0x5A):
        userName+= chr(ord(user[i]) - 0x20)
    else:
        userName+= chr(ord(user[i]))

print "User Name:", userName


Chúng ta thấy rằng script trên thực hiện lại công việc tương tự như crackme đã làm, nó sẽ lấy các ký tự trong chuỗi người dùng nhập vào và so sánh nó với 0x41. Nếu nhỏ hơn sẽ thông báo đó là một kí tự không hợp lệ và thoát luôn. Còn nếu không nhỏ hơn 0x41, kí tự được so sánh tiếp với 0x5A. Nếu lớn hơn hoặc bằng 0x5A, kí tự đó được trừ đi 0x20 và được gán lại vào chuỗi userName.

Kiểm tra thử script này như hình dưới đây:

Và nếu tôi nhập chuỗi có chứa chữ “Z”, nó sẽ được thay thế bằng dấu “:” như chúng ta đã phân tích ở trên:

OK, như vậy là đoạn script trên đã thực hiện đúng công việc mà vòng lặp trong code của crackme đã làm. Quay trở lại IDA, ta tiếp tục phân tích tiếp xem sau khi thoát khỏi vòng lặp thì code của Crackme sẽ làm gì tiếp. Khi vòng lặp kiểm tra và biết kí tự của chuỗi nhập vào bằng 0 (báo hiệu kết thúc chuỗi), thì nó sẽ thoát khỏi Loop và rẽ nhánh theo hướng mũi tên màu xanh lá cây như hình:

Tại khối lệnh bắt đầu từ địa chỉ 0x40139C, ta thấy chương trình gọi lệnh pop esi. Nhấn vào thanh ghi esi này thì IDA sẽ highlight toàn bộ các vị trí trong code có sử dụng tới thanh ghi này:

Chúng ta thấy rằng trước khi khôi phục lại thanh ghi esi, đoạn đầu code của crackme đã sử dụng lệnh push để lưu giá trị ban đầu của esi vào ngăn xếp, mà ta thấy rằng giá trị ban đầu này của esi là trỏ tới đầu chuỗi mà người dùng nhập vào. Như vậy, với lệnh pop esi, giá trị của esi sẽ được khôi phục lại trước khi gọi hàm sub_0x4013c2(). Tóm lại, trước khi đi vào sub_0x4013c2() thì thanh ghi esi lúc này sẽ trỏ lại về chuỗi mà người dùng đã nhập vào, tuy nhiên lúc này chuỗi đó đã được chuyển đổi rồi.

Phân tích lệnh tại hàm sub_0x4013c2() như trên hình, ta thấy rằng code tại đây là một vòng lặp thực hiện lấy ra từng kí tự trong chuỗi và cộng dồn lại. Đó là lý do tại sao tôi đặt trên cho hàm này là Sum_Chars(). Bổ sung code này vào trong Python script ở trên:

Như vậy, script của ta đã hoàn thành công việc cộng tất cả các byte và in ra tổng. Để kiểm tra script có thực hiện đúng không, ta có thể đặt một breakpoint tại lệnh XOR bên dưới hàm cộng, cho chạy chương trình và nhập vào tên người dùng là “manowar” giống như lúc chạy script và mật khẩu tùy ý, ví dụ 989898.

Như trên hình, ta thấy thanh ghi EDI sẽ lưu kết quả của hàm cộng, giá trị của thanh ghi EDI lúc này đang là 0x215, hoàn toàn khớp với script ta đã viết ở trên. Sau đó, giá trị của EDI được đem đi XOR với giá trị mặc định 0x5678 (thường gọi là XOR_KEY). Do đó, tôi bổ sung thêm lệnh này vào script như sau:

Nếu vẫn đang dừng lại tại BP ở trên, ta nhấn F8 để trace qua lệnh XOR này, quan sát giá trị của thanh ghi EDI và so sánh với kết quả thực hiện bằng script hoàn toàn khớp nhau:

Sau đó, tại code của chương trình, kết quả sau lệnh XOR được gán cho thanh ghi EAX để làm kết quả trả về của hàm và nhảy tới địa chỉ 0x4013C1 để thoát khỏi hàm.

Sau khi ra khỏi hàm, giá trị của thanh ghi EAX sẽ được lưu lại thông qua lệnh push eax và sau đó được khôi phục lại bằng lệnh pop eax trước khi thực hiện so sánh. Điều này có nghĩa là trong câu lệnh cmp eax, ebx, toán hạng đầu tiên là thanh ghi EAX sẽ là kết quả trả về từ hàm Process_User().

Với chuỗi tên người dùng nhập vào đã xong, tiếp tục phân tích để xem điều gì sẽ xảy ra với mật khẩu mà người dùng nhập vào tại hàm Process_Password(). Đi vào phân tích code tại hàm:

Sau khi phân tích code, nhận thấy hàm này sẽ thực hiện đọc từng byte của chuỗi password, lưu vào thanh ghi BL và đem trừ đi giá trị là 0x30, kết quả vẫn lưu lại trong thanh ghi EBX. Tiếp theo, lấy giá trị của EDI (ban đầu được khởi tạo bằng 0) đem nhân với 0xA (được gán cho EAX) rồi cộng với EBX. Viết lại toàn bộ đoạn code này trong script như bên dưới. Trong script tôi để sẵn mật khẩu cố định là “989898” để xem kết quả sau khi tính toán là thế nào.

Chạy lại script, kết quả có được như sau:

Như vậy sau khi thực hiện script, với mật khẩu là 989898 thì kết quả tính toán là một giá trị ở dạng hex là 0xf1aca. Nếu thử chuyển đổi ngược lại thì tôi thấy giá trị hex này chính là của chuỗi 989898.

Do vậy, có thể tóm tắt lại đoạn code của hàm xử lý mật khẩu bước đầu sẽ thực hiện việc chuyển đổi chuỗi số mà ta nhập vào sang dạng hex, tương tự như việc ta gõ lệnh hex() ở thanh Python bar của IDA như trên hình. Do đó, trong script tôi có thể thay bằng câu lệnh đơn giản là hex(password). Khi chạy sẽ vẫn cho ra kết quả tương tự.

Tiếp theo, sau khi chuyển sang hạng hexa và lưu kết quả chuyển đổi tại thanh ghi EDI, trong code của crackme sẽ gọi lệnh xor edi với giá trị mặc định là 0x1234. Kết quả được bao nhiêu sẽ gán lại cho thanh ghi EBX thay vì sử dụng thanh ghi EAX (vì thanh ghi EAX đang được sử dụng để lưu kết quả khác). Sau khi thoát ra khỏi hàm, trước khi thực hiện so sánh chương trình sẽ khôi phục lại giá trị của EAX mà đã được tính toán bởi hàm Process_User().

Đến đây, ta có thể tổng kết lại toàn bộ quá trình xử lý của crackme như sau:

hex(password)^0x1234 = XOR_Result (Là kết quả tính toán mà hàm Process_User() đã trả về).

Do đó:

hex(password) = XOR_Result ^ 0x1234

Như vậy, bằng cách xor ngược lại như trên ta sẽ có được password tương ứng với chuỗi name nhập vào. Chỉnh sửa lại script trên như sau:

Chạy thử script sau khi đã sửa lại với chuỗi “manowar”:

Với kết quả có được, ta nhập vào Crackme để kiểm tra thử:

Tới đây ta đã có được một keygen hoàn chỉnh. Trong script này ta không cần thiết phải thực hiện chuyển đổi lại kết quả sang dạng thập phân bởi vì Python đã làm việc chuyển đổi này một cách tự động.

Dưới đây là toàn bộ source code của keygen:

sum = 0
user = raw_input()
len_user = len(user)
if (len_user &gt; 0xb):
	exit()
userName=""
for i in range(len_user):
	if (ord(user[i]) < 0x41):
		print "INVALID CHARACTER!"
		exit()
	if (ord(user[i]) &gt;= 0x5A):
		userName+= chr(ord(user[i]) - 0x20)
	else:
		userName+= chr(ord(user[i]))
print "User Name:", userName
for i in range(len(userName)):
	sum+= ord(userName[i])
print "Total:", hex(sum)
xor_result = sum ^ 0x5678
print "XOR_Result:", hex(xor_result)
#-----------------------------------
password = xor_result ^ 0x1234
print "Password:", password

Ta kiểm tra thử keygen với tên nhập vào có chứa “Z”:

Toàn bộ phần 19 đến đây là kết thúc, như vậy là chúng ta đã reversed toàn bộ quá trình hoạt động của Cruehead crackme và viết được một keygen hoàn chỉnh bằng Python. Hẹn gặp lại các bạn trong phần 20!

Xin gửi lời cảm ơn chân thành tới thầy Ricardo Narvaja!

m4n0w4r

Ủng hộ tác giả

Nếu bạn cảm thấy những gì tôi chia sẻ trong bài viết là hữu ích, bạn có thể ủng hộ bằng “bỉm sữa” hoặc “quân huy” qua địa chỉ:

Tên tài khoản: TRAN TRUNG KIEN
Số tài khoản: 0021001560963
Ngân hàng: Vietcombank